-
Que thử nhanh 3 trong 1: Beta-lactam, Sulfonamide và Tetracycline.
Bộ xét nghiệm này dựa trên phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể và kháng nguyên cùng với phương pháp sắc ký miễn dịch. Các kháng sinh nhóm β-lactam, sulfonamide và tetracycline trong mẫu sẽ cạnh tranh với kháng thể để liên kết với kháng nguyên được phủ trên màng của que thử. Sau khi phản ứng tạo màu xảy ra, kết quả có thể được quan sát.
-
Que thử kim loại nặng chì
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó kim loại nặng trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo có liên kết kháng nguyên kim loại nặng được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử 6-BA
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó 6-BA trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo có chứa kháng nguyên liên kết 6-BA được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử nhanh Chlorpyrifos
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Chlorpyrifos trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Chlorpyrifos được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Terbutaline
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Terbutaline trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Terbutaline được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử hàm lượng Timosaponin BⅡ
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó hàm lượng Timosaponin BⅡ trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo có chứa Timosaponin BⅡ liên kết với kháng nguyên được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử hàm lượng Astragaloside
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó hàm lượng Astragaloside trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết với hàm lượng Astragaloside được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử thuốc Floxacin
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Floxacin trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Floxacin được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Imidazole
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Imidazole trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo có chứa kháng nguyên liên kết Imidazole được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Bacitracin
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Bacitracin trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Bacitracin được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Betamethasone
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Betamethasone trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Betamethasone được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Chlorpromazine
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Chlorpromazine trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Chlorpromazine được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.












