-
Que thử nhanh Kwinbon để phát hiện Enrofloxacin và Ciprofloxacin
Enrofloxacin và Ciprofloxacin đều là những loại thuốc kháng khuẩn hiệu quả cao thuộc nhóm fluoroquinolone, được sử dụng rộng rãi trong phòng ngừa và điều trị các bệnh động vật trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Giới hạn dư lượng tối đa của enrofloxacin và ciprofloxacin trong trứng là 10 μg/kg, phù hợp cho các doanh nghiệp, tổ chức kiểm nghiệm, cơ quan giám sát và các đơn vị khác thực hiện kiểm nghiệm nhanh tại chỗ.
-
Que thử nhanh chất chuyển hóa Olaquinol
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh bằng vàng keo, trong đó Olaquinol trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Olaquinol được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử nhanh Ribavirin
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh bằng vàng keo, trong đó Ribavirin trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Ribavirin được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử nhanh nicarbazine
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh bằng vàng keo, trong đó Thiabendazole trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Thiabendazole được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Bộ kit ELISA định lượng dư lượng Salinomycin
Salinomycin thường được sử dụng để phòng chống bệnh cầu trùng ở gà. Thuốc này gây giãn mạch, đặc biệt là giãn động mạch vành và tăng lưu lượng máu, không gây tác dụng phụ đối với người bình thường, nhưng đối với những người mắc bệnh động mạch vành thì rất nguy hiểm.
Bộ kit này là sản phẩm mới dùng để phát hiện dư lượng thuốc dựa trên công nghệ ELISA, nhanh chóng, dễ thực hiện, chính xác và nhạy bén, đồng thời có thể giảm thiểu đáng kể sai sót trong thao tác và cường độ lao động.
-
Que thử nhanh Fipronil
Fipronil là một loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm phenylpyrazole. Nó chủ yếu gây độc qua đường tiêu hóa đối với sâu hại, với cả tác dụng diệt trừ khi tiếp xúc và một số tác dụng toàn thân. Nó có hoạt tính diệt côn trùng cao đối với rệp, rầy nâu, rầy nhảy, ấu trùng bướm, ruồi, bọ cánh cứng và các loại sâu hại khác. Nó không gây hại cho cây trồng, nhưng lại độc hại đối với cá, tôm, mật ong và tằm.
-
Que thử nhanh Amantadine
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Amantadine trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Amantadine được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Terbutaline
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Terbutaline trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Terbutaline được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử chất chuyển hóa Nitrofuran
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó các chất chuyển hóa Nitrofurans trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng các chất chuyển hóa Nitrofurans liên kết với kháng nguyên được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử Amoxicillin
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Amoxicillin trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Amoxicillin được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử chất chuyển hóa Furazolidone
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Furazolidone trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Furazolidone được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.
-
Que thử chất chuyển hóa Nitrofurazone
Bộ kit này dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch gián tiếp cạnh tranh, trong đó Nitrofurazone trong mẫu cạnh tranh với kháng thể được gắn nhãn vàng keo bằng kháng nguyên liên kết Nitrofurazone được giữ lại trên vạch thử. Kết quả xét nghiệm có thể được quan sát bằng mắt thường.












